NATO

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
Hiệu kỳ
North Atlantic Treaty Organization (orthographic projection).svg
Vùng đất do các quốc gia thành viên kiểm soát được hiển thị bằng màu xanh lá cây đậm.
Viết tắtNATO, OTAN
Khẩu hiệuAnimus in Consulendo Liber[1]
Thành lập4 tháng 4, 1949 (1949-04-04)
Loại hìnhLiên minh quân sự 22
Trụ sở chínhBruxelles, Bỉ
Thành viên
Ngôn ngữ chínhAnh, Pháp[2]
Tổng thư kýJens Stoltenberg
Chủ tịch Ủy ban Quân sựKnud Bartels
Trang webwww.nato.int

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (tiếng Anh: North Atlantic Treaty Organization, NATO; tiếng Pháp: Organisation du traité de l'Atlantique nord, OTAN) là một liên minh quân sự dựa trên Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương được ký kết vào ngày 4 tháng 4 năm 1949 bao gồm Mỹ, Canada và một số nước ở châu Âu (các nước 2 bên bờ Đại Tây Dương).

Mục đích thành lập của NATO là để ngăn chặn sự phát triển ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sảnLiên Xô lúc đó đang trên đà phát triển rất mạnh ở châu Âu. Việc thành lập NATO lại dẫn đến việc các nước cộng sản thành lập khối Warszawa để làm đối trọng. Sự kình địch và chạy đua vũ trang của hai khối quân sự đối địch này là cuộc đối đầu chính của Chiến tranh Lạnh trong nửa cuối thế kỷ 20.

Những năm đầu tiên thành lập, NATO chỉ là một liên minh chính trị. Tuy nhiên, do cuộc Chiến tranh Triều Tiên tác động, một tổ chức quân sự hợp nhất đã được thành lập. Nghi ngờ rằng liên kết của các nước châu ÂuMỹ yếu đi cũng như khả năng phòng thủ của NATO trước khả năng mở rộng của Liên Xô, Pháp rút khỏi Bộ Chỉ huy quân sự của NATO (không rút khỏi NATO) năm 1966. Năm 2009, với số phiếu áp đảo của quốc hội dưới sự lãnh đạo của chính phủ của Tổng thống Nicolas Sarkozy, Pháp quay trở lại NATO.

Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989, tổ chức này không còn đối trọng (khối Warszawa), nhưng NATO không giải tán mà tiếp tục tham gia vào các cuộc chiến tranh tấn công những nước khác, như cuộc phân chia nước Nam Tư, và lần đầu tiên can thiệp quân sự tại Bosnia và Herzegovina từ 1992 tới 1995 và sau đó đã oanh tạc Serbia vào năm 1999 trong cuộc nội chiến ở Kosovo. Tổ chức ngoài ra có những quan hệ tốt hơn với những nước thuộc khối đối đầu trước đây trong đó nhiều nước từng thuộc khối Warszawa đã gia nhập NATO từ năm 1999 đến 2004. Ngày 1 tháng 4 năm 2009, số thành viên lên đến 28 với sự gia nhập của AlbaniaCroatia.[3] Đến năm 2020 thì số lượng thành viên của NATO là 30 quốc gia sau khi Bắc Macedonia chính thức tham gia tổ chức này vào tháng 3 năm 2020.[4] Năm 2022 Phần LanThụy Điển gửi đơn xin gia nhập tổ chức này ngay sau khi Liên Bang Nga tấn công Ukraina vào tháng 2 cùng năm[5]. Từ sau sự kiện 11/9 năm 2001, NATO tập trung vào những thử thách mới, liên quan đến việc chống lại chủ nghĩa khủng bố, cực đoan. Trong đó có các chiến dịch can thiệp quân sự tại Afghanistan, IraqLibya.

Lịch sử

Tây Đức gia nhập NATO vào năm 1955, dẫn đến sự hình thành Hiệp ước Warsaw, đối thủ của NATO trong Chiến tranh Lạnh.
Bộ chỉ huy đồng minh châu Âu (Tổng hành dinh tối cao của NATO)

Hiệp ước Brussels là một hiệp ước bảo vệ lẫn nhau giữa các nước Tây Âu để chống lại mối đe dọa ngày càng tăng từ Liên Xô vào đầu Chiến tranh Lạnh. Nó được ký kết vào ngày 17 tháng 3 năm 1948 bởi Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, PhápVương quốc Anh. Đó là tiền thân của NATO. Mối đe dọa từ Liên Xô trở nên thực sự đáng lo ngại sau vụ phong tỏa Berlin năm 1948, dẫn đến việc thành lập một tổ chức quốc phòng đa quốc gia giữa các nước Tây Âu, Tổ chức Quốc phòng Liên hiệp Phương Tây, vào tháng 9 năm 1948. Tuy nhiên, các nước thành viên của tổ chức lúc đó quá yếu về quân sự để có thể chống lại Lực lượng Vũ trang Liên Xô. Bên cạnh đó, tại Tiệp Khắc vào năm 1948 một cuộc đảo chính của những người cộng sản đã diễn ra thành công và Ngoại trưởng Anh Ernest Bevin tin rằng cách tốt nhất để ngăn chặn các quốc gia khác rơi vào tình trạng như Tiệp Khắc đó là phát triển một chiến lược quân sự giữa các nước phương Tây. Ông có một buổi điều trần tiếp nhận tại Hoa Kỳ, đặc biệt là xem xét sự lo lắng của Mỹ đối với Ý (và Đảng Cộng sản Ý)[6]

Năm 1948, các nhà lãnh đạo châu Âu đã gặp các quan chức quốc phòng, quân sự và ngoại giao Mỹ tại Lầu Năm Góc, dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ George C. Marshall để đàm phán về một liên minh quân sự mới giữa các nước Phương Tây. Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, được ký bởi Tổng thống Mỹ Harry S. Truman tại Washington vào ngày 4 tháng 4 năm 1949, đánh dấu sự thành lập của NATO. Vào ngày mới được thành lập, NATO bao gồm năm quốc gia thuộc Hiệp ước Brussels cộng với Hoa Kỳ, Canada, Bồ Đào Nha, Ý, Na Uy, Đan MạchIceland [7].

Các thành viên tham gia Hiệp ước cam kết rằng bất cứ cuộc tấn công vũ trang nào chống lại một trong số họ ở châu Âu hoặc Bắc Mỹ sẽ được coi là một cuộc tấn công chống lại tất cả các thành viên còn lại trong khối. Do đó, họ thỏa thuận với nhau rằng, nếu một cuộc tấn công vũ trang xảy ra, tất cả các nước thành viên còn lại, sẽ có trách nhiệm giúp đỡ thành viên bị tấn công, bao gồm cả việc sử dụng vũ trang, để khôi phục và duy trì an ninh của khu vực Bắc Đại Tây Dương.

Sự ổn định chính trị đã dần dần khôi phục nền kinh tế Tây Âu và sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ sau chiến tranh đã bắt đầu. Những năm tiếp theo, NATO đã có thêm những thành viên mới: Hy LạpThổ Nhĩ Kỳ vào năm 1952, và Tây Đức vào năm 1955. Để phản ứng trước sự gia nhập NATO của Tây Đức, Liên bang Xô viết và các quốc gia Đông Âu vệ tinh đã thành lập Tổ chức Hiệp ước Warsaw năm 1955. Chiến tranh Lạnh bao trùm toàn châu Âu.

Các thành viên NATO

Thành viên sáng lập

Ba thành viên của NATO là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc với quyền phủ quyết và là các nước sở hữu vũ khí hạt nhân: Mỹ, PhápAnh. Trụ sở chính của NATO đặt tại Brussels, Bỉ,[8], nơi Supreme Allied Commander tọa lạc. Bỉ là một trong 29 quốc gia thành viên NATO tại Bắc Mỹchâu Âu, và mới nhất trong số các thành viên là các nước AlbaniaCroatia, tham gia vào tháng 4 năm 2009. Một 22 quốc gia khác tham gia với tư cách đối tác quan hệ của NATO trong chương trình Hòa bình, và 15 quốc gia khác tham gia vào các chương trình đối thoại thể chế hóa. Chi phí quân sự của NATO chiếm 70% chi phí quân sự thế giới, riêng Mỹ chiếm khoảng 50%, Anh, Pháp, ĐứcÝ gộp lại chiếm 15% chi phí quân sự thế giới.[9] Chi phí của các thành viên NATO dự tính là 2% GDP.[10]

Thành viên trong Chiến tranh Lạnh

Thành viên Đông Âu sau Chiến tranh Lạnh

Thành viên Bắc Âu

Hy LạpThổ Nhĩ Kỳ gia nhập tổ chức vào tháng 2 năm 1952. Năm 1955, Cộng hoà Liên bang Đức (lúc đó chỉ có phần Tây Đức) gia nhập, năm 1990 nước Đức thống nhất mở rộng tư cách thành viên cho vùng lãnh thổ Đông Đức tức Cộng hoà Dân chủ Đức cũ. Tây Ban Nha gia nhập ngày 30 tháng 5 năm 1982. Năm 1999, 3 nước thành viên khối Warszawa cũ gia nhập NATO là Ba Lan, Cộng hoà SécHungary.

Pháp là một thành viên NATO, nhưng năm 1966 đã rút khỏi bộ chỉ huy quân sự. Sau đó tổng hành dinh NATO chuyển từ Paris đến Bruxelles. Tháng 4 năm 2009, Pháp quay trở lại bộ chỉ huy quân sự NATO, trở thành thành viên đầy đủ, chấm dứt 43 năm vắng bóng. Iceland là thành viên duy nhất của NATO không có quân đội riêng, vì thế lực lượng Quân đội Hoa Kỳ thường trực tại Iceland đảm nhiệm vai trò Lực lượng Phòng vệ Iceland.

Ngày 29 tháng 3 năm 2004, Slovenia, Slovakia, các nước khối Warszawa cũ gồm Bulgaria, Romania, các nước vùng Baltic thuộc Liên Xô trước đây là Estonia, LatviaLitva chính thức gia nhập NATO. Tháng 4 cùng năm, các nước này lần đầu tiên dự họp hội đồng NATO.

Ngày 1 tháng 4 năm 2009, CroatiaAlbania chính thức được kết nạp vào NATO sau 1 năm nộp đơn xin gia nhập. Montenegro trở thành thành viên thứ 29 của NATO vào năm 2017.

Ngày 27 tháng 3 năm 2020, Bắc Macedonia trở thành thành viên thứ 30 của NATO.

Ngoài ra, NATO còn có chương trình hành động thành viên (MAP). Hiện tại MAP gồm Gruzia, UkrainaBosnia-Herzegovina.

Bản đồ lớn

NATO ở châu Âu Đối tác NATO toàn cầu
A map of Europe with countries in blue, cyan, orange, and yellow based on their NATO affiliation. A world map with countries in blue, cyan, orange, yellow, purple, and green, based on their NATO affiliation.
  
Thành viên NATO
  
Đã nộp đơn gia nhập
  
Chương trình hành động cộng tác riêng lẻ
  
Đối tác hòa bình
  
Đối thoại Địa Trung Hải
  
Sáng kiến Hợp tác Istanbul
  
Đối tác toàn cầu
 Albania
Bắc Macedonia
 Bỉ
 Bulgaria
 Canada
 Croatia
 Cộng hòa Séc
 Đan Mạch
 Estonia
 Pháp
 Đức
 Hy Lạp
 Hungary
 Iceland
 Italia
 Latvia
 Litva
 Luxembourg
 Montenegro
 Hà Lan
 Na Uy
 Ba Lan
 Bồ Đào Nha
 România
 Slovakia
 Slovenia
 Tây Ban Nha
 Thổ Nhĩ Kỳ
 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
 Mỹ
 Bosnia-Herzegovina  Armenia
 Azerbaijan
 Bosnia-Herzegovina
 Gruzia
 Kazakhstan
 Moldova
 Montenegro
 Ukraina
 Armenia
 Áo
 Azerbaijan
 Belarus
 Bosnia
 Phần Lan
 Gruzia
 Ireland
 Kazakhstan
 Kyrgyzstan
 Macedonia
 Malta
 Moldova
 Montenegro

 Serbia
 Thụy Điển
 Thụy Sĩ
 Tajikistan
 Turkmenistan
 Ukraina
 Uzbekistan
 Algérie
 Ai Cập
 Israel
 Jordan
 Mauritanie
 Maroc
 Tunisia
 Bahrain
 Kuwait
 Qatar
 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
 Afghanistan
 Australia
 Colombia
 Iraq
 Nhật Bản
 Mông Cổ
 Pakistan
 New Zealand
 Hàn Quốc

Quan hệ Nga-NATO

Theo NATO, trong hơn hai thập kỷ, NATO đã cố gắng xây dựng quan hệ đối tác với Nga, đối thoại và hợp tác với Nga trong các lĩnh vực hai bên cùng có lợi. Tuy nhiên quan hệ này bị rạn nứt khi NATO cáo buộc Nga can thiệp quân sự vào Ukraina nhưng NATO vẫn giữ các kênh đối thoại chính trị và quân sự với Nga. NATO tiếp tục quan tâm đến các hoạt động quân sự của Nga sau sự kiện Ukraina.[11] Về phần mình, Nga cũng cáo buộc khủng hoảng tại Ukraina năm 2014 là do NATO gây ra khi không giữ vững các cam kết trước đó với Nga cũng như đã tiến hành lật đổ chính quyền hợp pháp tại đây bằng đảo chính.[12] Trên thực tế, Nga và NATO luôn tồn tại rất nhiều bất đồng.

Theo Học thuyết quân sự Liên bang Nga, Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga được tổ chức theo nguyên tắc phòng thủ, không đe dọa sử dụng vũ lực và ngăn chặn xung đột nhằm bảo vệ hòa bình và các lợi ích quốc gia của Nga, các đồng minh (bao gồm các lợi ích của công dân, xã hội và nhà nước) khi các biện pháp chính trị, kinh tế, ngoại giao, pháp lý và các biện pháp phi bạo lực khác không có tác dụng. Trong Học thuyết quân sự, Nga coi việc NATO sử dụng năng lực tiềm tàng của mình để vi phạm luật pháp quốc tế thông qua quá trình bành trướng là một mối đe dọa quân sự đối với Nga ngang hàng với các nguy cơ về gây mất ổn định nội bộ của các quốc gia, khu vực, thế giới; triển khai quân đột xuất ở các quốc gia có biên giới tiếp giáp với Nga hoặc biên giới tiếp giáp với đồng minh của Nga; các hệ thống phòng thủ và tấn công gây mất cân bằng hạt nhân chiến lược toàn cầu; sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; sử dụng lực lượng vũ trang không theo luật pháp quốc tế và hiến chương Liên Hợp Quốc; thành lập những chính phủ chống Nga và đồng minh mà không thông qua bầu cử hợp pháp tại các quốc gia láng giềng của Nga và đồng minh; chủ nghĩa khủng bố và lợi dụng chống khủng bố để gây phương hại cho Nga và đồng minh...Chính sách đối ngoại của Nga với NATO là đối thoại trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau nhằm xây dựng nền an ninh với nền tảng không liên kết và có tính tập thể (collective non-aligned), Nga và NATO cùng nhau củng cố vai trò của Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu (OSCE).[13]

Chính sách Đông tiến (bành trướng) của NATO và sự lo ngại của Nga

Chính sách kết nạp các thành viên cũ trong khối Xã hội chủ nghĩa tại Đông Âucác nước thuộc không gian hậu Xô viết bị Nga lên án là hành động vi phạm Hiệp ước Các Lực lượng Vũ trang Thông thường ở châu Âu (CFE) khi Hiệp định này nghiêm cấm các thành viên cũ trong khối Xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu và các nước thuộc không gian hậu Xô viết gia nhập NATO[14]. Bên cạnh đó Nga cũng cáo buộc NATO không giữ đúng cam kết về duy trì mức trần về số lượng vũ khí thông thường. Việc NATO mở rộng về phía Đông là một trong các nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng chính trị tại Ukraina. Về cơ bản, NATO mở rộng về phía Đông đã tái khẳng định địa vị lãnh đạo toàn cầu của Mỹ, không gian an ninh và không gian sinh tồn của Nga dần bị thu hẹp, bố cục an ninh địa chính trị của châu Âu thay đổi đáng kể[15].

Hoa Kỳ chủ trương duy trì NATO và thúc đẩy chính sách Đông tiến của NATO, biến đây trở thành lý do để NATO tồn tại sau Chiến tranh Lạnh. Nga tuy thừa kế vị thế pháp lý của Liên Xô nhưng không thể hùng mạnh một cách toàn diện như Liên Xô trước kia. Tuy nhiên, Nga vẫn là một cường quốc ở châu Âu và chính sách Đông tiến của NATO là để kiềm chế Nga[15].

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, NATO tiến hành 3 đợt Đông tiến. Ngay trong lần mở rộng đầu tiên, biên giới NATO đã được mở về phía Đông thêm 900 km, quân số tăng thêm 13 Sư đoàn, tiếp nhận toàn bộ vũ khí-khí tài các thành viên mới và Đông Đức. Điều này khiến cho cán cân Nga-NATO mất cân bằng nghiêm trọng. Tổng quân số NATO gần 5 triệu quân (chưa tính quân số của Hoa Kỳ và các nước ngoài châu Âu), trong khi đó Nga có 3,2 triệu. ngày 27/5/1997 đã ký kết "Văn kiện cơ bản về quan hệ, hợp tác và an ninh giữa Nga với NATO". Trong văn kiện, NATO cam kết sẽ để Nga có quyền phát ngôn ở mức độ nhất định đối với các sự vụ của NATO. Hơn nữa NATO bảo đảm không bố trí vũ khí hạt nhân trong lãnh thổ các nước thành viên mới.[15].

Chính sách Đông tiến đã xâm phạm đến sân sau của Nga và đe dọa đến lợi ích chiến lược cốt lõi của nước này, một điều mà Tổng thống Nga Vladimir Putin đã nhấn mạnh và lặp lại nhiều lần. Tổng thống Boris Yeltsin đã nói: "Đây là dấu hiệu đầu tiên về điều có thể xảy ra khi NATO tiến gần đến biên giới của Liên bang Nga. … Ngọn lửa chiến tranh có thể bùng cháy và trải khắp châu Âu" khi NATO mở rộng lần thứ nhất sau chiến tranh Lạnh[14]. Ngoại trưởng Nga Lavrov đã công bố các tài liệu chứng minh rằng NATO từng hứa với Liên Xô và Nga rằng NATO không bao giờ mở rộng về phía Đông[16].

Hệ thống phòng thủ tên lửa của NATO tại Đông Âu và sự lo ngại của Nga

Bên cạnh chính sách Đông tiến, hệ thống phòng thủ tên lửa của NATO tại Đông Âu cũng bị Nga coi là một mối đe dọa khác. Mặc dù NATO tuyên bố hệ thống này làm nhằm chống lại các mối đe dọa từ Iran nhưng Nga cho rằng sự thiếu cân bằng trong việc triển khai lực lượng giữa Đông Âu-Địa Trung Hải là minh chứng cho sự bao vây Nga[17]. Bên cạnh đó, việc Iran không có khả năng tấn công châu Âu nên thực tế hệ thống này là để kiềm chế Nga[18]. Năm 2001, Chính quyền của Tổng thống Mỹ G. W. Bush đã đơn phương tuyên bố rút khỏi Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo (ABM), mà MỹLiên Xô đã ký kết năm 1972 để xây dựng hệ thống này khiến Nga cực kỳ lo ngại khi Hiệp ước này là nền tảng để hai bên duy trì thế cân bằng lực lượng.[19].

Để đáp trả, Nga đã lên kế hoạch việc nâng cấp khả năng tấn công bằng tên lửa của mình, trong đó có kế hoạch triển khai tên lửa đạn đạo chiến thuật 9K720 Iskander tại Kaliningrad, Krashnodar (Nga) và Belarus[20].

Ngày 13/05/2015, Nga đã phản ứng gay gắt khi Hoa Kỳ đưa hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu chính thức đi vào hoạt động. Hệ thống này trị giá 800 triệu USD. Ngoài ra Nga cũng thành lập 3 sư đoàn mới tại miền Tây nước này để làm đối trọng với NATO[21]

Phát ngôn viên điện Kremlin Dmitri S. Peskov nói rằng: "Ngay từ đầu, các chuyên gia quân sự của Nga đã bị thuyết phục rằng hệ thống tên lửa này tạo ra một mối đe dọa lớn với Liên bang Nga"[22]

NATO và kế hoạch thành lập quân đội riêng của Liên minh châu Âu

Hiện tại, để khắc phục những nhược điểm của NATO cũng như để độc lập hơn với Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại và phòng thủ, Liên minh châu Âu đã đưa ra đề xuất thành lập một quân đội riêng của các nước trong khối. Cả ông Jean-Claude Juncker – Chủ tịch Ủy ban châu Âu – lẫn bà Federica Mogherini – Cao ủy Liên minh Châu Âu về Đối ngoại (tương đương Ngoại trưởng của khối) đều ủng hộ kế hoạch này.[23] Tiến trình này trước đây bị Anh phản đối do lo ngại lực lượng vũ trang này sẽ cạnh tranh với NATO. Theo Anh, kế hoạch này sẽ làm hỏng chính sách phòng thủ của EU.[24] Tuy nhiên, từ sau khi Anh rời EU, kế hoạch này lại được nối lại. Việc thành lập lực lượng vũ trang riêng của EU rất được Đức, Pháp, hai nước chủ chốt trong khối, ủng hộ.[25] Về phía Hoa Kỳ, việc thành lập quân quân đội EU sẽ khiến nước này giảm bớt chi phí dành cho các nước đồng minh ở châu Âu thông qua NATO, không phải can thiệp vào những công việc của riêng châu Âu, nhưng ít có ảnh hưởng tới lợi ích của Hoa Kỳ như những sự việc ở Balkan.[26] Việc bà Mogherini tuyên bố quân đội EU sẽ làm việc độc lập với NATO đã làm gia tăng lo ngại rằng quân đội EU sẽ thay thế vai trò của NATO ở châu Âu. Hungary, ItaliaSéc đều ủng hộ kế hoạch này.[27] Tờ Người Bảo vệ của Anh cho rằng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ việc thành lập quân đội này nếu nó giải quyết được vấn đề "năng lực quân sự các nước châu Âu ngày càng xuống dốc". Tờ báo này cũng nhấn mạnh rằng hiện tại châu Âu không thiếu một quân đội mà thiếu một cam kết về phòng thủ giữa các nước Châu Âu và xuyên Đại Tây Dương.[28] Ngày 22 tháng 11 năm 2016, Liên minh châu Âu đã đưa ra cam kết quân đội riêng của khối sẽ đi vào hoạt động vào năm 2017.[29] Theo ông Sergey Rastoltsev thuộc Viện Kinh tế Thế giới và Quan hệ Quốc tế Primakov, thuộc Học viện Khoa học Liên bang Nga, quân đội EU có thể khiến quan hệ chính trị-quân sự giữa Nga–EU thêm căng thẳng nhưng trong trường hợp quan hệ Nga–EU được cải thiện, quân đội EU cũng có thể tạo ra nhiều cơ hội hợp tác hơn giữa Nga–EU nếu so với vai trò của NATO do NATO vốn dĩ là một vết tích từ thời Chiến tranh Lạnh và do sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ lên quan hệ Nga–EU cũng sẽ bị giảm bớt khi quân đội này không có Hoa Kỳ tham gia như NATO.[30]

Chú thích

  1. ^ “The Official motto of NATO”. NATO (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013.
  2. ^ "English and French shall be the official languages for the entire North Atlantic Treaty Organization.", Final Communiqué following the meeting of the North Atlantic Council on 17 tháng 9 năm 1949. "(..)the English and French texts [of the Treaty] are equally authentic(...)"The North Atlantic Treaty, Article 14
  3. ^ Albania, Croatia join NATO military alliance, AFP, 1 tháng 4 năm 2009
  4. ^ “Bắc Macedonia gia nhập NATO”. Báo Đồng Nai. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2022.
  5. ^ Huyền Lê (18 tháng 5 năm 2022). “Phần Lan, Thụy Điển nộp đơn xin gia nhập NATO”. VnExpress. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2022.
  6. ^ Pedaliu 2003, p. 97.
  7. ^ “A short history of NATO”. NATO. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2017.
  8. ^ Boulevard Leopold III-laan, B-1110 BRUSSELS, which is in Haren, part of the City of Brussels. “NATO homepage”. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2006.
  9. ^ “The SIPRI Military Expenditure Database”. Milexdata.sipri.org. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010.
  10. ^ Erlanger, Steven (ngày 26 tháng 3 năm 2014). “Europe Begins to Rethink Cuts to Military Spending”. nytimes.com. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. Last year, only a handful of NATO countries met the target, according to NATO figures, including the United States, at 4.1 percent, and Britain, at 2.4 percent.
  11. ^ Relations with Russia, NATO Website
  12. ^ Why the Ukraine Crisis Is the West’s Fault | Foreign Affairs
  13. ^ https://www.offiziere.ch/wp-content/uploads-001/2015/08/Russia-s-2014-Military-Doctrine.pdf
  14. ^ a b #207 - Tại sao cuộc khủng hoảng Ukraine là do lỗi của phương TâyNghiên cứu quốc tế
  15. ^ a b c “NATO mở rộng về phía Đông từ cuộc khủng hoảng Ukraine”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016.
  16. ^ Putin: 2 gọng kìm của NATO mưu bóp nghẹt nước Nga
  17. ^ Nga Mỹ và cuộc chạy đua lá chắn tên lửa tại châu Âu
  18. ^ Mỹ đưa hệ thống phòng thủ tên lửa châu Âu vào hoạt động: Nga phản ứng gay gắt
  19. ^ Hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ tại châu Âu - nhân tố gây mất ổn định khu vực và thế giới - Tạp chí Quốc phòng toàn dân
  20. ^ http://www.vietnamplus.vn/nga-doa-trien-khai-ten-lua-chien-thuat-tai-belarus/116935.vnp
  21. ^ Nga thành lập 3 sư đoàn mới, đối trọng với NATO | Báo Giao thông
  22. ^ Russia Calls New U.S. Missile Defense System a ‘Direct Threat’ - The New York Times
  23. ^ http://www.express.co.uk/news/world/684549/EU-cannot-rely-NATO-needs-new-defence-policy-chief
  24. ^ http://www.reuters.com/article/us-eu-defence-idUSKCN11X00G
  25. ^ The European Union Wants an Army of Its Own | VICE News
  26. ^ Should the European Union Have Its Own Army?
  27. ^ Europe forges ahead with plans for 'EU army'
  28. ^ Is there a secret plan to create an EU army? | Politics | The Guardian
  29. ^ European Union Confirm EU Army Will Launch In 2017 - Your News Wire
  30. ^ “The pros and cons of a European Army | Russia Direct”. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2016.

Tham khảo

  • David C. Isby & Charles Kamps Jr, Armies of NATO's Central Front, Jane's Publishing Company Ltd 1985

Đọc thêm

Đọc thêm – Giai đoạn đầu

  • Francis A. Beer. Integration and Disintegration in NATO: Processes of Alliance Cohesion and Prospects for Atlantic Community. (Columbus: Ohio State University Press, 1969), 330 pp.
  • Francis A. Beer. The Political Economy of Alliances: Benefits, Costs, and Institutions in NATO. (Beverly Hills: Sage, 1972), 40 pp.
  • Eisenhower, Dwight D. The Papers of Dwight David Eisenhower. Vols. 12 and 13: NATO and the Campaign of 1952: Louis Galambos et al., ed. Johns Hopkins University Press, 1989. 1707 pp. in 2 vol.
  • Gearson, John and Schake, Kori, ed. The Berlin Wall Crisis: Perspectives on Cold War Alliances Palgrave Macmillan, 2002. 209 pp.
  • John C. Milloy. North Atlantic Treaty Organisation, 1948–1957: Community or Alliance? (2006), focus on non-military issues
  • Smith, Joseph, ed. The Origins of NATO Exeter, UK University of Exeter Press, 1990. 173 pp.

Đọc thêm – Giai đoạn Chiến tranh Lạnh sắp kết thúc

  • Smith, Jean Edward, and Canby, Steven L.The Evolution of NATO with Four Plausible Threat Scenarios. Canada Department of Defence: Ottawa, 1987. 117 pp.

Đọc thêm – Giai đoạn hậu Chiến tranh lạnh

  • Asmus, Ronald D. Opening NATO's Door: How the Alliance Remade Itself for a New Era Columbia University Press, 2002. 372 pp.
  • Bacevich, Andrew J. and Cohen, Eliot A. War over Kosovo: Politics and Strategy in a Global Age. Columbia University Press, 2002. 223 pp.
  • Daclon, Corrado Maria Security through Science: Interview with Jean Fournet, Assistant Secretary General of NATO, Analisi Difesa, 2004. no. 42
  • Gheciu, Alexandra. NATO in the 'New Europe' Stanford University Press, 2005. 345 pp.
  • Hendrickson, Ryan C. Diplomacy and War at NATO: The Secretary General and Military Action After the Cold War University of Missouri Press, 2006. 175 pp.
  • Lambeth, Benjamin S. NATO's Air War in Kosovo: A Strategic and Operational Assessment Santa Monica, Calif.: RAND, 2001. 250 pp.

Đọc thêm – Lịch sử chung

  • Alasdair, Roberts (2002/2003). “NATO, Secrecy, and the Right to Information” (PDF). East European Constitutional Review. New York University — School of Law. 11/12 (4/1): 86–94. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2006. Chú thích có các tham số trống không rõ: |laydate=, |laysummary=, và |laysource= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |year= (trợ giúp)
  • Kaplan, Lawrence S. The Long Entanglement: NATO's First Fifty Years. Praeger, 1999. 262 pp.
  • Kaplan, Lawrence S. NATO Divided, NATO United: The Evolution of an Alliance. Praeger, 2004. 165 pp.
  • Létourneau, Paul. Le Canada et l'OTAN après 40 ans, 1949–1989 Quebec: Cen. Québécois de Relations Int., 1992. 217 pp.
  • Paquette, Laure. NATO and Eastern Europe After 2000 (New York: Nova Science, 2001).
  • Powaski, Ronald E. The Entangling Alliance: The United States and European Security, 1950–1993. Greenwood Publishing Group, 1994. 261 pp.
  • Telo, António José. Portugal e a NATO: O Reencontro da Tradiçoa Atlântica Lisbon: Cosmos, 1996. 374 pp.
  • Sandler, Todd and Hartley, Keith. The Political Economy of NATO: Past, Present, and into the 21st Century. Cambridge Uiversity Press, 1999. 292 pp.
  • Zorgbibe, Charles. Histoire de l'OTAN Brussels: Complexe, 2002. 283 pp.

Đọc thêm – Các vấn đề khác

  • Kaplan, Lawrence S., ed. American Historians and the Atlantic Alliance. Kent State University Press, 1991. 192 pp.

Liên kết ngoài

  • Website chính thức của NATO
  • History of NATO – the Atlantic Alliance - UK Government site
  • Basic NATO Documents
  • 'NATO force 'feeds Kosovo sex trade' (The Guardian)
  • NATO Maintenance and Supply Agency (NAMSA) Official Website
  • NATO Consultation, Command and Control Agency (NC3A) Official Website Lưu trữ 2009-01-14 tại Wayback Machine
  • Joint Warfare Centre
  • NATO Response Force Article Lưu trữ 2003-06-20 tại Wayback Machine
  • NATO searches for defining role
  • Official Article on NATO Response Force
  • World Map of NATO Member Countries
  • Congressional Research Service (CRS) Reports regarding NATO Lưu trữ 2008-05-12 tại Wayback Machine
  • Balkan Anti NATO Center, Greece
  • NATO Defense College
  • Atlantic Council of the United States Lưu trữ 2003-12-22 tại Wayback Machine
  • CBC Digital Archives - One for all: The North Atlantic Treaty Organization
  • NATO at Fifty: New Challenges, Future Uncertainties Lưu trữ 2008-05-14 tại Wayback Machine U.S. Institute of Peace Report, tháng 3 năm 1999
  • NATO at 50 Lưu trữ 2008-05-02 tại Wayback Machine
  • Ukraine shelves bid to join NATO[liên kết hỏng]
  • x
  • t
  • s
Flag of NATO.svg Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Flag of NATO.svg
Các thành viên
Bỉ · Bulgaria · Canada · Cộng hòa Séc · Đan Mạch · Estonia · Pháp · Đức · Hy Lạp · Hungary · Iceland · Ý · Latvia · Litva · Luxembourg · Hà Lan · Na Uy · Ba Lan · Bồ Đào Nha · Romania · Slovakia · Slovenia · Tây Ban Nha · Thổ Nhĩ Kỳ · Anh Quốc · Hoa Kỳ
NATO OTAN portrait logo.svg
Các ứng cử viên
Albania · Croatia · Macedonia
  • x
  • t
  • s
Hội nghị thượng đỉnh NATO
Thập niên 1950
  • Thứ 1 (Paris)
Thập niên 1970
  • Thứ 2 (Bruxelles)
  • Thứ 3 (Bruxelles)
  • Thứ 4 (Luân Đôn)
  • Thứ 5 (Washington, D.C.)
Thập niên 1980
  • Thứ 6 (Bonn)
  • Thứ 7 (Bruxelles)
  • Thứ 8 (Bruxelles)
  • Thứ 9 (Bruxelles)
  • Thứ 10 (Bruxelles)
Thập niên 1990
  • Thứ 11 (Luân Đôn)
  • Thứ 12 (Roma)
  • Thứ 13 (Bruxelles)
  • Thứ 14 (Paris)
  • Thứ 15 (Madrid)
  • Thứ 16 (Washington, D.C.)
Thập niên 2000
  • Hội nghị Trụ sở NATO (Bruxelles)
  • Thứ 17 (Roma)
  • Thứ 18 (Praha)
  • Thứ 19 (Istanbul)
  • Thứ 20 (Bruxelles)
  • Thứ 21 (Riga)
  • Thứ 22 (Bucharest)
  • Thứ 23 (Strasbourg–Kehl)
Thập niên 2010
  • Thứ 24 (Lisboa)
  • Thứ 25 (Chicago)
  • Thứ 26 (Newport)
  • Thứ 27 (Warszawa)
  • Thứ 28 (Bruxelles)
  • Thứ 29 (Bruxelles)
  • Thứ 30 (Watford)
  • NATO
  • Hội đồng Bắc Đại Tây Dương
  • Tổng thư ký NATO
  • Danh sách Tổng thư ký NATO
  • x
  • t
  • s
Thập niên 1940
Thập niên 1950
Bức màn tre • Chiến tranh Triều Tiên • Đảo chính Iran năm 1953 • Khởi nghĩa Đông Đức năm 1953 • Đảo chính Guatemala năm 1954 • Chia cắt Việt Nam • Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần 1 • Hội nghị thượng đỉnh Geneva (1955) • Biểu tình Poznań 1956 • Sự kiện năm 1956 ở Hungary • Khủng hoảng Kênh đào Suez • Khủng hoảng Sputnik • Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần 2 • Cách mạng Cuba • Tranh cãi nhà bếp • Hội nghị Bandung • Tu chính án Bricker • Chủ nghĩa McCarthy • Chiến dịch Gladio  • Học thuyết Hallstein  • Nổi dậy Tây Tạng 1959
Thập niên 1960
Khủng hoảng Congo • Chia rẽ Trung-Xô • Vụ việc U-2 năm 1960 • Sự kiện Vịnh Con Lợn • Bức tường Berlin • Khủng hoảng tên lửa Cuba • Chiến tranh Việt Nam • Đảo chính Brazil năm 1964 • Hoa Kỳ xâm chiếm Cộng hòa Dominica • Chiến tranh biên giới Nam Phi • Chuyển sang Trật tự mới • Thuyết domino • Tuyên bố ASEAN • Nội chiến Lào • Hội đồng Quân sự Hy Lạp 1967–1974 • Chiến tranh Sáu Ngày • Cách mạng Văn hóa • Chiến tranh Trung-Ấn • Mùa xuân Praha • Khối Warszawa tấn công Tiệp Khắc • Chủ nghĩa cộng sản Gulyás • Xung đột biên giới Trung-Xô
Thập niên 1970
Giảm căng thẳng • Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân • Tháng Chín Đen (Jordan) • Nội chiến Campuchia • Chính sách thực dụng • Ngoại giao bóng bàn • Thoả thuận bốn cường quốc về Berlin • Chuyến thăm Trung Quốc của Richard Nixon • Đảo chính Chile 1973 • Chiến tranh Yom Kippur • Đàm phán Giới hạn Vũ khí Chiến lược • Nội chiến Angola • Nội chiến Mozambique • Chiến tranh Ogaden · Chia rẽ Trung Quốc-Albania • Chiến tranh Việt Nam–Campuchia • Chiến tranh Việt–Trung • Cách mạng Iran • Chiến dịch Kền kền • Chiến tranh giải phóng Bangladesh  • Chuyến bay 902 của Korean Air Lines
Thập niên 1980
Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan • Chiến tranh Iran-Iraq • Tẩy chay Olympic năm 1980 và năm 1984 • Công đoàn Đoàn kết • Khủng hoảng Ba Lan 1980-1981 • Contras • Khủng hoảng Trung Mỹ • RYAN • Chuyến bay 007 của Korean Air Lines • Able Archer 83 • Sáng kiến phòng thủ chiến lược • Xâm chiếm Grenada • Cách mạng Sức mạnh Nhân dân • Sự kiện Thiên An Môn • Hoa Kỳ xâm chiếm Panama • Bức tường Berlin sụp đổ • Những cuộc cách mạng 1989 • Glasnost • Perestroika
Thập niên 1990
Xem thêm
Quan hệ Hoa Kỳ-Liên Xô • Quan hệ NATO-Nga
Địa chính trị
Siêu cường quốc • Khối phía Đông • Khối phía Tây • Nhà nước cộng sản • Thế giới tự do • Phong trào không liên kết • Trung Quốc cộng sản • Hội nghị Ba Lục địa 1966 • Địa chính trị dầu mỏ
Tổ chức
Chạy đua
Ý thức hệ
Tuyên truyền
Chính sách
ngoại giao
Học thuyết Truman • Kế hoạch Marshall • Chính sách ngăn chặn • Học thuyết Eisenhower • Thuyết domino • Học thuyết Kennedy • Cùng tồn tại hòa bình • Ostpolitik • Học thuyết Johnson • Học thuyết Brezhnev • Học thuyết Nixon • Học thuyết Ulbricht • Học thuyết Carter • Học thuyết Reagan • Rollback
Mốc sự kiện • Chủ đề • Thể loại • Hình ảnh
  • x
  • t
  • s
Phân loại
Cường quốc kinh tế • Siêu cường năng lượng • Cường quốc thực phẩm • Sức mạnh cứng • Sức mạnh quốc gia • Chính trị sức mạnh • Chính trị thực dụng  • Quyền lực thông minh • Quyền lực mềm • Quyền lực bén
Trạng thái
Địa chính trị
Thế kỷ Mông Cổ • Thế kỷ Anh • Thế kỷ Hoa Kỳ (Hòa bình Mỹ) • Thế kỷ châu Á • Thế kỷ Trung Quốc • Thế kỷ Thái Bình Dương • Thế kỷ Ấn Độ
Học thuyết
Cân bằng quyền lực • Cân bằng quyền lực châu Âu • Trung tâm quyền lực • Thuyết ổn định bá quyền • Lý thuyết về quyền lực • Phân cực • Đề án sức mạnh • Lý thuyết chuyển tiếp quyền lực • Siêu cường thứ hai • Phạm vi ảnh hưởng
Nghiên cứu
Châu Phi
Châu Phi–Châu Á
Châu Mỹ
Châu Á
Châu Âu
Á Âu
Bắc Mĩ–Châu Âu
  • Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)
Châu Phi–Châu Á
–Châu Âu
Châu Phi–Nam Mĩ
Châu Đại Dương
–Thái Bình Dương
Không theo vùng
Toàn cầu
  • x
  • t
  • s
Các đối tượng
Chủ đề
  • Hội nhập khu vực
  • Danh sách các tổ chức khu vực theo dân số
  • Chủ nghĩa Khu vực (quan hệ quốc tế)
Tiêu đề chuẩn Sửa dữ liệu tại Wikidata
  • BIBSYS: 90056314
  • BNE: XX93263
  • BNF: cb11868595r (data)
  • CANTIC: a1013265x
  • CiNii: DA00468578
  • GND: 377-3
  • HDS: 041283
  • ISNI: 0000 0001 1537 6279
  • LCCN: n79006743
  • LNB: 000004314
  • NDL: 00568052
  • NKC: kn20010711289
  • NLA: 35390828
  • NLG: 56828
  • NLI: 000104907
  • NLP: A10123817
  • NSK: 000041111
  • PLWABN: 9810548628705606
  • RERO: 02-A005463577
  • SELIBR: 125434
  • SNAC: w6tf3tcr
  • SUDOC: 026438453
  • Trove: 936003
  • ULAN: 500225812
  • VcBA: 494/11468
  • VIAF: 148423701
  • WorldCat Identities: lccn-n79006743